TỔNG QUAN VỀ MỸ PHẨM

TỔNG QUAN VỀ MỸ PHẨM

móng. Cho đến ngày hôm nay, làm trắng da vẫn tiếp tục là một lý tưởng của cái đẹp.[2]Ở Hy Lạp 1000 năm trước Công nguyên, làn da trắng màu sứ cũng được ưachuộng. Người Hy Lạp trát phấn hoặc bột chì màu trắng lên mặt. Phụ nữ dùng son môibằng đất sét màu nâu vàng trộn với bột sắt đỏ. Tại Rome, phụ nữ thường đắp mặt nạ làhỗn hợp bột lúa mạch và bơ, bôi móng tay làm từ mỡ và máu. Thời gian trôi qua,nhiều loại hình sơ khai của mỹ phẩm được con người tìm tòi sáng tạo và sử dụng rộngrãi khắp châu Âu và phương Đông, hai nền văn minh lớn của nhân loại. [1-2]Thế kỷ 14, nước Anh triều đại Elizabeth coi nhuộm tóc đỏ là mốt. Phụ nữ vẫn rấtyêu thích làn da trắng như tuyết. Họ bôi lòng trắng trứng gà lên mặt. Để ngăn chặn nếpnhăn, trước khi đi ngủ, họ đắp mặt nạ bằng những lát thịt bò tươi. Nữ hoàng ElizabethI được xem là người sáng tạo ra mặt nạ dưỡng da. [2]Thế kỷ 15-16 ở châu Âu, mỹ phẩm chỉ được sử dụng bởi tầng lớp quý tộc. Italyvà Pháp là hai trung tâm sản xuất mỹ phẩm lớn nhất. Người Pháp đạt nhiều bước độtphá trong chế tạo mỹ phẩm và nước hoa bằng cách pha trộn nhiều loại nguyên liệu.Tuy nhiên, mỹ phẩm cũng là nguyên nhân gây hại bởi chì và thạch tín trong thànhphần của chúng. Thế kỷ 19, người Pháp lại dẫn đầu trong cuộc cách mạng làm đẹp. Họphát minh ra nhiều chất hóa học thay thế hương liệu thiên nhiên. Kẽm oxide được sửdụng phổ biến trong phấn thoa mặt, thế chỗ cho chì và đồng nhiều độc tố trước đây.Tuy nhiên, nhiều nguyên liệu có hại cho sức khỏe vẫn tiếp tục hiện diện trong mỹphẩm như chì, antimony sulphit trong phấn mắt, thủy ngân sulphit trong son môi. [1-2]Năm 1920, nước Mỹ vươn lên nhanh chóng trong việc sản xuất và tiêu thụ mỹphẩm. Phụ nữ vứt bỏ phong cách Victoria nhợt nhạt để ăn vận theo mốt và trang điểmthật rực rỡ. Năm 1927, thuốc nhuộm tóc được chế tạo lần đầu tiên mang lại mái tócdợn sóng mơ ước cho phái đẹp. Năm 1930, các ngôi sao điện ảnhMary Pickford,Theda Bara, Jean Harlow mở đầu phong cách trang điểm mới. Làn da trắng như tuyếtbị truất ngôi nhường chỗ cho làn da rám nắng sành điệu kiểu Hollywood. Năm 1935,hãng Max Factor tung ra mỹ phẩm đóng bánh, tiện dụng mang đi xa. [1-2]Thập niên 50 – 60 chứng kiến sự phát triển vượt bậc của công nghiệp mỹ phẩm.Chiến tranh thế giới kết thúc, xã hội ổn định, nhu cầu làm đẹp của quý bà quý cô làmảnh đất màu mỡ cho các hãng mỹ phẩm như Helena Rubinstein, Estée Lauder,Revlon. Thị trường mỹ phẩm đa dạng, nhộn nhịp với dầu làm nâu da, nước hoa, lôngmi giả, bút nước kẻ mắt. Truyền hình, báo chí tràn ngập quảng cáo sản phẩm làm đẹp.Đến thập niên 80, công nghiệp sản xuất mỹ phẩm đã đạt đến doanh thu khổng lồ 20 tỷUSD mỗi năm. [3]Từ đó đến nay, mỹ phẩm luôn là lĩnh vực đầu tư nhiều lợi nhuận nhất. Hoạt độngsản xuất và kinh doanh mỹ phẩm ngày càng tăng về số lượng và chất lượng. Sự pháttriển đó tạo ra sự cạnh tranh đầu tư để cho ra những sản phẩm tốt hơn, hiện đại hơn vàan toàn hơn.1.2. Định nghĩaMỹ phẩm (Cosmetic) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp. Theo Food and Drugadministration (FDA) của Mỹ, định nghĩa mỹ phẩm dựa trên sử dụng của sản phẩm lêncơ thể con người để làm sạch, làm đẹp, tăng độ hấp dẫn hay thay đổi vẻ bề ngoài (làmẩm da, nước hoa, son môi, sơn móng tay, trang điểm mắt và mặt) mà không làm ảnhhưởng đến cấu trúc hay chức năng. Theo Liên minh Châu Âu (Eu) cũng như Bộ y tếViệt Nam, mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những bộphận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi vàcơ quan sinh dục ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục đích chính là để làmsạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thểhoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt. [4]1.3. Xu thế phát triển mỹ phẩm hiện nay1.3.1. Cosmeceutical (mỹ phẩm dược)Ngày nay, một xu thế mới trong ngành công nghiệp mỹ phẩm là mỹ phẩm dược,đó là giai đoạn phát triển nhanh nhất trong ngành công nghiệp sản phẩm chăm sóc cánhân tự nhiên. Mỹ phẩm dược là thế hệ tương lai của việc chăm sóc da. Mỹ phẩmdược có những tiến bộ trong thế giới của các sản phẩm về chăm sóc da, nhằm nâng caosức khỏe và vẻ đẹp của làn da. Một số mỹ phẩm dược được nguồn gốc tự nhiên hoặcđang tổng hợp, nhưng tất cả đều chứa các thành phần chức năng với các tính chất hoặcđiều trị, chống lại bệnh tật hoặc chữa bệnh. Raymond Reed, người sáng lập của Hiệphội Hoa Kỳ của nhà hóa học mỹ phẩm, tạo ra khái niệm “cosmeceutical” (mỹ phẩmdược) được phổ biến bởi bác sĩ da liễu của Mỹ. Albert Kligman vào cuối những năm1970. Tuy nhiên, Ai Cập là những người đầu tiên nhận ra các đặc tính sức khỏe chomỹ phẩm. Ebers là bản thảo y tế đã viết vào năm 1600 trước Công nguyên, được sử3dụng thường xuyên cho một số sản phẩm mỹ phẩm dược. Một công thức được yêuthích đã sử dụng mật ong và sữa để giúp các bệnh ngoài da chữa bệnh. [5]Nhiều bác sĩ Ả Rập thời trung cổ và các đối tác châu Âu của họ không có sựphân biệt giữa các mỹ phẩm, nước hoa và các loại thuốc thảo dược. Nghiên cứu vàphát triển công việc của họ bao gồm tất cả các bộ môn cùng một lúc. Việc phân loạicác mỹ phẩm và đồ dùng vệ sinh, công nghiệp từ các loại thuốc, dược từ thế kỷ 19. Sựphân loại này xuất hiện khi các ngành công nghiệp dược phẩm hiện đại lần đầu tiênđược phát triển và các quy định của chính phủ đầu tiên về việc bán thuốc đã được soạnthảo. Vai trò của mỹ phẩm như một trợ giúp chữa bệnh hiệu quả, vào cuối những năm1970 và đầu năm 1980, Kligman đã phát triển các công thức để cải thiện sự hư tổn dotia UV gây ra bằng cách sử dụng acid retinoic (tác nhân chống lão hóa). [5]Các khái niệm về làm đẹp không chỉ giới hạn một mình phụ nữ, thậm chí cảnhững người đàn ông cũng đã nhận thức về cách nhìn của họ. Hiện nay, quảng cáo vềchống nhăn da và kem dưỡng da ban ngày cũng nhắm vào nam giới. Mỹ phẩm dượcđược nam giới sử dụng bao gồm các sản phẩm tăng trưởng tóc, chống lão hóa, chốngmồ hôi và các hợp chất làm se da. Phổ biến nhất được phụ nữ sử dụng bao gồm cácsản phẩm chống nếp nhăn, săn chắc da, tẩy lông, sạm da làm trắng, chống oxy hóa, vàphục hồi tế bào. [5]Phân loại mỹ phẩm dược được sử dụng với các điều kiện khác nhau. Nó là sự kếthợp của sản phẩm giữa thuốc và mỹ phẩm. Mỹ phẩm dược về cơ bản có thể được phânthành các loại sau đây:• Mỹ phẩm dược cho da như các loại kem chống lão hóa, kem giữ ẩm, các sản phẩmchăm sóc da mặt, lotion.• Mỹ phẩm dược cho tóc như gel, màu tóc và thuốc nhuộm, dầu gội đầu, kích thích tăngtrưởng, điều hòa da đầu.• Son môi, sơn móng tay, kem đánh răng. [5]Mỹ phẩm dành cho da là các sản phẩm mỹ phẩm có lợi để làm thuốc hoặc thuốcnhưng có thể ảnh hưởng đến chức năng sinh học của da nhờ vào thành phần hoạt chấttrong đó. Những sản phẩm cải thiện chức năng, kết cấu của da bằng cách bổ sungcollagen, chống tác hại của các gốc tự do, do đó duy trì cấu trúc keratin trong tìnhtrạng tốt và làm cho tăng sức khỏe làn da. Dòng OLAY vitamine bao gồm vitamine A,C, D, E, selenium và lycopene, pycnogenol với kẽm và đồng là một dòng chăm sóc da11nổi tiếng. Việc điều trị lão hóa da với một loại kem có chứa hormone như estrogen tạomột diện mạo tươi mới, hiệu ứng trẻ hóa. Kuno và Matsumoto đã cấp bằng sáng chế vềmột tác nhân bên ngoài cho da gồm một trích xuất chế biến từ cây Oliu là một thànhphần làm da đẹp, đặc biệt được xem là thành phần chống lão hóa da hoặc một thànhphần làm trắng. Để làm mềm da khô, tinh dầu jojoba đã được sử dụng. Martin đã sửdụng chiết xuất thực vật thuộc chi Chrysanthemum để kích thích da hoặc sắc tố tóc. [5]Một số thành phần thường được sử dụng trong mỹ phẩm dược:• Acid hydroxyl còn gọi là acid trái cây, một thành phần phổ biến được tìm thấy trongnhiều sản phẩm mỹ phẩm dược như acid citric, acid malic và acid lactic. Acid αhydroxyl cải thiện kết cấu da và làm giảm các dấu hiệu lão hóa bằng cách thúc đẩy cáctế bào ở lớp ngoài cùng của biểu bì và phục hồi độ ẩm. Một giả thuyết cho rằng acid αhydroxyl làm giảm nồng độ ion canxi trong lớp biểu bì và thông qua chelation, loại bỏcác ion từ dính tế bào, do đó được phá vỡ, dẫn đến bong vảy. Việc giảm kết quả củamức độ ion canxi có xu hướng để thúc đẩy tăng trưởng tế bào và biệt hóa tế bào chậm,do đó dẫn đến trẻ trung. [5]• Thực vật: một số thực vật có thể có lợi cho da bao gồm chiết xuất từ trà xanh, acidferulic, và chiết xuất hạt nho. Acid ferulic, hợp chất này có nguồn gốc từ thực vật,được coi là một chất chống oxy hóa mạnh và đã được chứng minh để bảo vệ cho da.Hơn nữa, khi acid ferulic được kết hợp với vitamine C và E, sản phẩm đã được chứngminh để bảo vệ UV đáng kể cho làn da của con người. Chiết xuất hạt nho thực vật nàyđã được thành lập như là một chất chống oxy hóa mạnh và đã được chứng minh, khibôi chiết xuất hạt nho cũng đã được chứng minh để tăng cường các yếu tố bảo vệ mặttrời ở người. [5]• Tác nhân khử sắc tố: chất làm da sáng thêm vào công thức sản phẩm đã trở nên ngàycàng phổ biến vì nhu cầu. Thành phần thường gặp bao gồm hydroquinone, acidascorbic (vitamine C), acid kojic và chiết xuất cam thảo (glabridin). Hydroquinone đãđược lựa chọn cho làm sáng da. FDA Hoa Kỳ đã đề nghị nồng độ giữa 1,5 % và 2 %trong việc làm sáng da. Một nghiên cứu gần đây cho thấy mối quan tâm này đã đượcchủ yếu dựa trên các nghiên cứu với các mô hình động vật sử dụng tiếp xúc lâu dài vớiliều lượng cao là chất gây ung thư. Việc bôi thường xuyên có thể không gây ra nguycơ lớn hơn từ mức hiện tại trong thực phẩm thông thường. [5]• Tẩy tế bào chết bằng cách loại bỏ các tế bào dính trong lớp sừng. Tẩy tế bào chếtthường thấy trong các chế phẩm mỹ phẩm dược bao gồm acid salicylic, acid lactic vàacid glycolic. Có những lo ngại rằng sử dụng lặp lại của acid salicylic và acid αhydroxyl có thể gây lớp hạ bì và lớp biểu bì của da bị tổn thương nhiều hơn để thâmnhập bởi bức xạ tia cực tím. [5]• Tác nhân dưỡng ẩm: dưỡng ẩm phục hồi nước cho lớp biểu bì và cung cấp một màngbảo vệ nhẹ nhàng. Chúng cải thiện sự xuất hiện và tính chất của da khô và lão hóa,phục hồi chức năng bảo vệ bình thường của da, giảm việc sinh ra các cytokine gâyviêm. Kem dưỡng ẩm bao gồm một thành phần quan trọng điều trị trong tình trạng dakhác nhau (chàm, vẩy nến, ngứa). [5]• Peptide: peptide là các phân đoạn của protein, là những chuỗi dài các acid amin. Trongcơ thể, peptide điều hòa hoạt động của nhiều hệ thống bằng cách tương tác với các tếbào khác nhau và kết nối, tương tác cùng nhau, truyền đạt “mệnh lệnh” khắc phụcnhững khiếm khuyết, tăng cường các thế mạnh tích cực. Những pentapeptide peptidecó cơ chế khác nhau trong quá trình làm chậm sự lão hóa của da, tăng cường khả năngtổng hợp collagen dưới da, điều chỉnh chức năng sinh học tế bào, cải tạo vấn đề hô hấpda, cải tạo tính đàn hồi, sửa chữa các thương tổn trên da do tác động môi trường, nộitiết, sức khoẻ. [5]• Retinoid là một trong những thành phần phổ biến nhất được tìm thấy trong mỹ phẩmdược. Chúng bao gồm các dẫn xuất tự nhiên và tổng hợp của vitamine A làm giảm sắctố và ức chế các enzyme phân hủy collagen. [5]• Tác nhân chống nắng là thành phần mỹ phẩm dược quan trọng nhất, bởi vì nó bảo vệda chống lại bức xạ mặt trời, đó là gây tổn hại môi trường tác nhân quan trọng nhất.Kết quả giúp ngăn chặn các dấu hiệu lão hóa. Để có hiệu quả, tác nhân chống nắng nêncung cấp bảo vệ bao gồm cả tia UVA và UVB là tác nhân ngăn chặn lão hóa và là mộtphần của một chế độ chăm sóc da hàng ngày. Tác nhân chống nắng có chứa thànhphần hoạt tính hoạt động như bộ lọc tia cực tím. [5]• Chất chống oxy hóa làm giảm các gốc tự do, từ đó ngăn ngừa suy giảm ở mức độ tếbào. Chúng ức chế viêm, dẫn đến sự suy giảm collagen và cung cấp bảo vệ chống lạisạm da và ung thư da. Chất chống oxy hóa thường gặp bao gồm acid α- lipoic, acid Lascorbic (vitamine C), niacinamide (vitamine B3), N-acetyl- glucosamine, αtocopherol và ubiquinone. [5]Việc sử dụng mỹ phẩm dược đã tăng trong những năm gần đây, do đó bác sĩ cầnphải nâng cao kiến thức của họ về sản phẩm để chăm sóc bệnh nhân liên quan đến cácvấn đề da. Tuy nhiên, vào những thời điểm này, rất nhiều công ty sản xuất đang cạnhtranh và làm việc chăm chỉ để cung cấp kết quả thuyết phục để đáp ứng yêu cầu củabệnh nhân. Yêu cầu về hiệu quả thiếu bằng chứng thuyết phục, do đó ngành côngnghiệp được thử thách để cung cấp bằng chứng về hiệu quả của các hợp chất này. Mỹphẩm dược như vitamine, kem chống nắng, acid hydroxyl và nhiều hơn nữa đã chứngminh hiệu quả trong điều trị các bệnh da do đó tăng cường kết cấu da. Các thử nghiệmlâm sàng của mỹ phẩm dược là quan trọng để biết sự tương tác giữa da và mỹ phẩmdược hoặc thậm chí có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường. Xu hướng toàn cầu trongngành công nghiệp mỹ phẩm hướng tới phát triển mỹ phẩm ‘trong y học’ hoạt động, vàtrong ngành công nghiệp dược phẩm đối với sản phẩm thuốc “thẩm mỹ” theo địnhhướng (Hình 2). [5]Hình 2. Các sản phẩm mỹ phẩm dược1.3.2. Nutricosmetic (mỹ phẩm chức năng)Dinh dưỡng đã được định nghĩa là quá trình sinh tổng hợp thức ăn ở động vật vàthực vật và chuyển hóa năng lượng vào cơ thể. Dinh dưỡng (thực phẩm) cung cấp cácchất bổ dưỡng (hoặc các chất khác) cho quá trình nuôi sống cơ thể, bổ sung cho chế độăn uống thường ngày. Nutricosmetic có thể được mô tả như sự kết hợp giữa mỹ phẩmvà các ngành công nghiệp thực phẩm, hiện nay vẫn còn xa lạ với nhiều người tiêudùng và cả những chuyên gia. Quảng cáo về nutricosmetic được giới thiệu như cácchất dinh dưỡng đôi khi là “thuốc sắc đẹp”, “vẻ đẹp từ bên trong”, “mỹ phẩm uống”.Thị trường nutricosmetic được trị giá 1,5 tỷ đôla trong năm 2007, nhưng nó đã đượcdự đoán rằng sẽ đạt đến 4 tỷ đôla trong năm 2015, với châu Âu là thị trường quantrọng nhất trước khi Nhật Bản và Hoa Kỳ. Nutricosmetic có thể được định nghĩa là cácsản phẩm uống (thuốc viên hoặc viên nang, viên nén, chất lỏng,14cốm thuốc hoặc thựcphẩm) được xây dựng và đặc biệt dành cho các mục đích vẻ đẹp. Như vậy, sản phẩmlà sự kết hợp giữa dinh dưỡng và mỹ phẩm, không nên nhầm lẫn với mỹ phẩm dược.Nutricosmetic chủ yếu là tuyên bố về tác dụng chống lão hóa bằng cách giảm nếp nhăndo các gốc tự do tạo ra bởi bức xạ mặt trời. Ở các điều kiện khác nhau, tia cực tím(UV) bức xạ góp phần làm oxy phản ứng (ROS) sản xuất trong cơ thể con người khácnhau, sau đó có thể phản ứng với DNA, protein và acid chất béo dẫn đến tác hại oxyhóa và suy giảm hệ thống chống oxy hóa. Do đó, chất chống oxy hóa đại diện cho hầuhết các thành phần quan trọng trong nutricosmetical. Các chất chống oxy hóa nhưcarotenoid (β-carotene, lycopene, lutein, zeaxanthin và astaxanthin) và polyphenol(anthocyanidin, catechin, flavonoid, tannin và procyanidin). Những chất chống oxyhóa cũng ảnh hưởng trên các mô khác ngoài da. Thị trường cho các thực phẩm chứcnăng và nutricosmetic với tốc độ tăng trưởng hàng năm bởi vì ngày nay, người tiêudùng đã nhận thức về sản phẩm dinh dưỡng góp phần vào việc phòng bệnh, tập thểdục, sức khỏe nói chung và sức khỏe của làn da. Trong vòng 10 năm qua, ngành côngnghiệp phát triển nhiều ứng dụng dinh dưỡng mới để đáp ứng nhu cầu của con ngườinhư bảo vệ da khỏi ảnh hưởng oxy hóa thiệt hại (do tia UV) sau nhiều năm làm việcngoài trời hoặc kéo dài các hoạt động thể thao giải trí ngoài trời và ứng dụng bảo vệnày được công nhận là có lợi cho sức khỏe con người do European Food SafetyAuthority (EFSA) Panel on Dietetic Products, Nutrition and Allergies chứng nhận.Trong khi thị trường nutricosmetic là rất nhỏ so với thị trường sản phẩm chăm sóc cánhân khác, nhưng nó được ước tính là phát triển nhanh nhất (tăng trưởng hơn 12%trong năm 2007). Các yếu tố khác nhau như việc chuyển đổi sang phương pháp ít điềutrị và làm đẹp, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng (đặc biệt là của thế hệ trẻ), sựgia tăng của các spa, nét đẹp văn hóa, các yếu tố môi trường và xã hội đã làm thịtrường tăng nhanh. Nnutricosmetic đã nổi lên như là một chiến lược mới để ngăn chặndịch bệnh và duy trì sức khỏe nói chung và luyện tập thể dục trong khi hỗ trợ da sứckhỏe và sắc đẹp. Đây là một cái nhìn tổng quan về thành phần nutricosmetic không chỉtác động lên da, tóc và móng tay mà còn có tác dụng giúp nâng cao sức khỏe. Các cơchế để sức khỏe tốt như tập thể dục và tăng cường nutricosmetic, tập trung vào cáccarotenoid và phenolic thành phần và các khái niệm về ứng dụng sự kết hợp giữanutricosmetical – mỹ phẩm dược (các ứng dụng đường uống và bôi hỗn hợp) và kếthợp giữa nutricosmetical – vật lý trị liệu (kết hợp uống và tập thể dục hoặc massage).[6]Nutricosmetic thường dựa trên sự các thành phần sau đây: carotenoid,polyphenol, một số vitamine, chiết xuất đậu nành như isoflavone polyphenolic, vi chấtdinh dưỡng, glycopolyglycan, acid amin, các yếu tố thực vật khác (các loại thảo mộc),và các acid béo không bão hòa như dầu cá. Các thành phần nutricosmetic hàng đầu làcollagen, co-Q10, chiết xuất hạt nho, trà xanh, lutein, lycopene, omega – 3, superfruitsnhư acai, vitamine A, C, E và kẽm. Việc sử dụng của hầu hết các thành phần nói trên ởnutricosmetic và cơ chế tác động về da, sức khỏe và thể lực cùng với các bằng chứngkhoa học đã được thảo luận. [6]• Carotenoid (CAR) bao gồm các sắc tố tự nhiên tan trong chất béo (β-carotene,lycopene, lutein, zeaxanthin và astaxanthin) được tìm thấy trong nhiều loại trái cây vàrau quả. Các carotenoid C40, dẫn xuất oxy hóa của chúng và xanthophyll thường đượcsử dụng như là thành phần chống oxy hóa trong nutricosmetic. Hơn nữa, carotenoid cóthể ảnh hưởng đến con đường tín hiệu và biểu hiện gen ở cấp độ tế bào của các môkhác nhau. Đã có bằng chứng thuyết phục rằng carotenoid là những thành phần quantrọng của mạng lưới chống oxy hóa có liên quan đến các con đường sinh tổng hợp củamột số bệnh ảnh hưởng đến da và mắt. Trong điểm vàng võng mạc, lutein vàzeaxanthin là các carotenoid chủ yếu làm ngăn ngừa sự thoái hóa của nó. Tính chấthóa lý của chúng chống lại thiệt hại oxy hóa UV ánh sáng gây ra. Trong khi lutein vàzeaxanthin tích lũy chủ yếu ở điểm vàng của giác mạc, β-carotene (tiền vitamine A)tích tụ trong da. β-carotene được sử dụng như là một bảo vệ, ngăn chặn cháy nắng vàđã được chứng minh là có hiệu quả hoặc một mình hoặc kết hợp với các carotenoidkhác hoặc các vitamine chống oxy hóa. [6]• Polyphenol đại diện cho một loạt các sản phẩm thực vật tự nhiên như anthocyanidin(berries), catechin (táo trà, rượu vang đỏ), flavonol (trà xanh), flavavone (trái cây),isoflavone (đậu nành), tannin (nho đỏ) và proanthocyanidin (ca cao, hạt nho) cung cấpcho sức khỏe và luyện tập thể dục một chế độ dinh dưỡng từ việc ăn trái cây và rauquả. Hầu hết các bằng chứng xuất phát từ thử nghiệm in vitro cũng như từ các quan sáttrong cơ thể từ polyphenol như flavonol, proanthocyanidin, silymarin, genistein vàresveratrol. [6]• Isoflavone đậu nành thường được sử dụng trong nutricosmetic cho chất chống oxy hóavà các thuộc tính phytoestrogen ở nữ. Imedeen Prime Renewal tuyên bố “chống lạinhững ảnh hưởng của lão hóa nội tiết tố” và tập trung vào phụ nữ sau mãn kinh.Nutricosmetic này được dựa trên các thành phần như Marine Complex (protein cá vàpolysaccharide), chiết xuất đậu nành, kẽm, trà trắng, lycopene, chiết xuất hạt nho, hoacúc, vitamine C và vitamine E. Các nhà sản xuất khuyến cáo một lượng hai viên hailần một ngày (buổi sáng và buổi tối) và kết quả nhìn thấy được (giảm nếp nhăn da)trong vòng 12 đến 24 tuần. [6]• Trong nutricosmetic, vitamine gần như luôn luôn hiện diện như một phần của việc xâydựng:Vitamine A được sử dụng thường xuyên hơn trong các sản phẩm dược phẩm hơntrong mỹ phẩm dược hoặc nutricosmetic. Vitamine A, hiện diện trong da của conngười, không thể tự tổng hợp, do đó, nó phải được thông qua các phương tiện chế độăn uống. Việc uống vitamine A phụ thuộc vào sự hiện diện của retinoid (động vật) vàcarotenoid (nguồn gốc thực vật) trong chế độ ăn uống. Trong cơ thể, một tỷ lệ phầntrăm nhỏ của retinol được chuyển thành dạng hoạt tính sinh học của nó, tất cả acidretinoic dưới dạng trans (tretinoin), thông qua một trung gian thành retinaldehyde. Hầuhết các retinol được chuyển thành ester retinyl là hình thức lưu trữ của nó. Retinoid đãđiều chế thành công, sử dụng để điều trị mụn trứng cá cho gần bốn thập kỷ. Các biếnthể của phân tử này đã dẫn đến ba thế hệ của retinoid và hệ thống: các nonaromatic(retinol, tretinoin và isotretinoin), các monoaromatic (etretinate và acitretin), cácpolyaromatic (arotinoid, adapalene và tazarotene). Hiệu quả của việc sử dụng tại chỗcủa tretinoin trong điều trị lão hóa da đã được kiểm chứng. [6]Vitamine B3 (nicotinamide hoặc niacinamide) là một dẫn xuất của niacin thuđược thông qua chế độ ăn uống từ thịt, cá, sữa, trứng và các loại hạt. Niacin có đặctính làm giảm cholesterol. Nicotinamide là một phần của coenzyme nicotinamideadenine dinucleotide (NAD) và NAD phosphate (NADP) có thể hoạt động như chấtchống oxy hóa. NAD và NADP là quan trọng trong nhiều phản ứng enzyme trao đổichất của tế bào. Nicotiamide tham gia vào quá trình tổng hợp sphingolipid, acid béo,cholesterol và ceramide (giảm sự mất nước), trong sự thu hồi của melanosomeschuyển từ melanocytes vào trong keratinocytes, nó làm tăng sản xuất collagen như đãđược quan sát thấy trong một nghiên cứu cấy nguyên bào sợi. Tất cả những hiệu ứngcó thể giúp đảo ngược một số lão hóa da có dấu hiệu xuất hiện. [6]Vai trò của vitamine C là ngăn ngừa gốc tự do đã được nghiên cứu rộng rãi. Cácphân tử hòa tan trong nước bằng cách góp chung điện tử, trung hòa các gốc tự do vàbảo vệ cấu trúc tế bào từ stress. Acid L-ascorbic là yếu tố cho sự sinh tổng hợpcollagen, chức năng như một đồng yếu tố cho prolyl và lysyl hydroxylase, enzymehydroxylate proline và lysine trong collagen, ổn định cấu trúc xoắn ba của nó. Cácnghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng vitamine C cũng ảnh hưởng đến sự tổng hợpcollagen độc lập của hydroxyl hóa bởi kích hoạt phiên mã của nó và ổn địnhprocollagen acid ribonucleic. Do các cơ chế chống oxy hóa và collagen tổng hợp hỗtrợ, vitamine C thường được sử dụng trong các công thức nutricosmetic. [6]Trong đời sống mỗi người, vitamine D (vitamine ánh nắng mặt trời) đặc biệtquan trọng đối với sức khỏe. Nó có tính chất nội tiết tố và được sản xuất trong da hoặchấp thụ từ chế độ ăn uống và chuyển đổi tuần tự trong gan, thận để hấp thụ 1,25dyhydroxyvitamine D. Vitamine D có mặt trong hầu hết các tế bào mô trong cơ thểcon người. Do đó, thiếu hụt vitamine D có liên quan với tăng nguy cơ tiền sản giật, đòihỏi mổ với sinh nở, đa xơ cứng, viêm khớp dạng thấp, loại I và II tiểu đường, bệnhtim, bệnh mất trí nhớ, ung thư chết người và các bệnh truyền nhiễm. Vì vậy, tiếp xúcvới ánh nắng mặt trời hợp lý cùng với việc bổ sung vitamine D ít nhất là 2000 IU/ngàycho người lớn và 1.000 IU/ngày cho trẻ em là điều cần thiết để tối đa hóa sức khỏe củahọ. [6]Vitamine E là chất chống oxy hóa tan trong lipid quan trọng trong cơ thể conngười, tồn tại trong da. Các chức năng sinh lý có thể xảy ra trên biểu bì, vitamine E làđể góp phần bảo vệ chống oxy hóa của da. Do tính chất vật lý của nó nên vitamine Ehấp thụ ánh sáng cực tím trong quang phổ mặt trời. α-tocopherol là vitamine hoạt độngnhất (từ tám dạng vitamine E hiện có) và rất quan trọng trong việc bảo vệ màng tế bàotừ lipid peroxy bởi các gốc tự do. Một khi bị oxy hóa, vitamine E có thể được tái sinhtrở lại hình thức của mình bằng vitamine C hoặc acid L-ascorbic. Vitamine E cũng cótác dụng kích thích miễn dịch, đã được chứng minh là có liên quan với khả năng chốngnhiễm trùng. Tình trạng dinh dưỡng là một yếu tố quyết định quan trọng của chứcnăng miễn dịch. Các kết quả thử nghiệm lâm sàng này cho thấy bổ sung vitamine Elàm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh cảm lạnh thông thường. [6]Vi chất dinh dưỡng: Kẽm là một trong những thành phần được sử dụng nhấttrong nutricosmetic. Bên cạnh tác dụng mô tả của nó trên da, một phân tích bao gồmcho lợi ích tiềm năng của việc bổ sung kẽm như một can thiệp độc lập hoặc như mộtthuốc hỗ trợ cho điều trị bằng thuốc chống trầm cảm thông thường cho bệnh trầm cảm.Tuy nhiên, có những hạn chế về phương pháp luận trong nghiên cứu hiện tại và do đótiếp tục được thiết kế tốt thì cần nghiên cứu hơn. [6]Acid béo Omega-3 là những vi chất có tác dụng chống lão hóa được biết đến nhưgiảm sự hình thành nếp nhăn bằng cách bảo vệ da chống lại các tác hại của ánh sángchiếu tia cực tím. Oenobiol (“La Beauté qui vient de l’INTERIEUR”) đã có mặt trênthị trường từ năm 1985 với sản phẩm đầu tiên được gọi là “Fortepa 500”, một acid béodựa trên cẩm nang cần thiết cho người tiêu dùng nữ. [6]Trong văn bản, các kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng về lợi ích (hoặc tác hại)của nutricosmetic trên da, sức khỏe và thể lực vẫn còn khó hiểu. Điều này có thể đượcgiải thích một phần bởi sự đa dạng của các phương pháp nghiên cứu được sử dụng.Trong các thử nghiệm lâm sàng về tác dụng của carotenoid, nhiều nồng độ carotenoidkhác nhau được nghiên cứu, có nhiều điểm khác nhau cuối cùng, thời gian thử nghiệmvà sự khác biệt theo mùa, các loại khác nhau về các đối tượng, bệnh nhân và các côngcụ đo lường khác nhau. Một số nghiên cứu đã không kiểm soát được hoặc các nghiêncứu khác không được mô tả rõ ràng. Hầu hết các nghiên cứu được đặc trưng bởi kíchcỡ mẫu nhỏ. Hơn nữa, trong các thử nghiệm carotenoid, vai trò của các chất chuyểnhóa oxy hóa và tình trạng đồng phân hóa của các carotenoid có thể làm tăng tínhkhông đồng nhất của các kết quả nghiên cứu. Các “nghiên cứu nội bộ” của các phòngthí nghiệm sản xuất, không sẵn sàng để công bố kết quả thử nghiệm trên các tạp chí đểxem xét lại. Cùng với thực tế rằng những thử nghiệm không có ý nghĩa, có xu hướng ítđược xuất bản, điều này có thể dẫn đến sai lệch xuất bản. Vì vậy, chất lượng thửnghiệm lâm sàng với nguy cơ sai lệch thấp là cần thiết để đẩy mạnh các bằng chứng vềviệc sử dụng nutricosmetic trong sức khỏe và luyện tập thể dục. Công nghiệp tư nhâncần rõ ràng tài liệu và kết quả nghiên cứu khoa học độc lập phải được công bố. Đâycũng là điều rất quan trọng để thành công của nhà sản xuất nutricosmetic, đặc biệt là ởcác thị trường châu Âu với người tiêu dùng quan trọng đầy đủ thông tin. Điều quantrọng là phải hiểu được khoa học của nutricosmetic khi đang ngày càng trở nên phổbiến như các sản phẩm chăm sóc da ở châu Âu và Nhật Bản. Nhiều hợp chất của19